Mới cập nhật
Thứ ba, 29/08/2017 | 14:19 Chia sẻ trên Phòng, điều trị hội chứng giảm đẻ trên gà trên zozoha Chia sẻ trên Phòng, điều trị hội chứng giảm đẻ trên gà trên zozoha Chia sẻ trên Phòng, điều trị hội chứng giảm đẻ trên gà trên zozoha

Phòng, điều trị hội chứng giảm đẻ trên gà

(Thế Giới Gia Cầm) - Hội chứng giảm đẻ ở gà là bệnh truyền nhiễm do virus thuộc nhóm Adenovirus gây ra làm giảm tỷ lệ đẻ trứng đáng kể và chất lượng trứng…

Nguyên nhân

hội chứng giảm đẻ

Nhóm Adenovirus là virus có nhân AND sợi đôi thuộc họ Adenoviridae ... Bệnh xảy ra ở đàn gà đẻ công nghiệp (thương phẩm) và gà đẻ trứng giống trong giai đoạn 26 - 35 tuần tuổi (giai đoạn khai thác trứng). Gà đẻ trứng nâu thường nhạy cảm hơn.

Đường lây truyền

Sau khi xâm nhập vào cơ thể đàn gà, virus phát triển trong đường hô hấp, trong các mô lympho ống dẫn trứng dẫn đến giảm đẻ, giảm chất lượng trứng. Bệnh có thể lây truyền theo chiều dọc, từ đàn bố mẹ sang đàn con thông qua trứng nhiễm bệnh (trứng bất thường); hoặc theo chiều ngang, lây lan từ đàn gà bệnh sang đàn gà khỏe thông qua thức ăn, dụng cụ chăn nuôi (máng ăn, uống...); hoặc phương tiện vận chuyển đã bị nhiễm khuẩn từ phân và các chất bài tiết khác của đàn gà bệnh.

Triệu chứng

Bệnh thường kéo dài 6 - 12 tuần với các biểu hiện điển hình: Gà đang đẻ bình thường tự nhiên giảm đẻ đột ngột 20 - 40%, có khi lên đến 50% và kéo dài liên tục; Hình dạng trứng ngắn lại, vỏ mỏng, sần sùi và chuyển từ màu nâu sang màu trắng, có khi không có vỏ, lòng trắng loãng; Tỷ lệ ấp nở giảm; Gà bệnh vẫn ăn uống bình thường và không chết, mào nhợt nhạt (10 - 70% trường hợp), thỉnh thoảng có tiêu chảy nhất thời và thiếu máu.

Bệnh tích

Khi mổ khám, buồng trứng và ống dẫn trứng bị teo nhỏ; Trứng non không phát triển; Đôi khi tử cung bị viêm. Thông thường, hội chứng giảm đẻ ở gà rất dễ nhầm lẫn với bệnh viêm phế quản truyền nhiễm và rối loạn hấp thu canxi. Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm phân biệt với Hội chứng giảm đẻ bằng các triệu chứng đặc trưng như gà bệnh hay hắt hơi, thở khò khè, kém ăn, chậm lớn, lông cánh xơ xác. Chứng rối loạn hấp thu canxi ở gà được phân biệt với Hội chứng giảm đẻ bằng các bệnh tích đặc trưng như: Xương ống chân mềm và xốp, dễ gẫy; Xương ức (ngực) bị vặn vẹo; Xương sườn có những nốt u do sưng khớp giữa phần xương và sụn của xương sườn.

Biện pháp phòng, trị

Hiện, bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, cần thực hiện tốt các biện pháp phòng bệnh để bảo vệ đàn gà đẻ tránh khỏi nguy cơ mắc bệnh. Khi chọn gà giống, cần mua từ những cơ sở giống chất lượng, gà con phải được chọn từ những đàn gà được tiêm phòng cẩn thận. Trong quá trình nuôi, thường xuyên vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống, dụng cụ sạch sẽ, định kỳ phun thuốc sát trùng 2 lần/tuần để tiêu diệt mầm bệnh trong môi trường.

Thực hiện tiêm phòng vaccine là biện pháp hữu hiệu nhất, tiến hành tiêm cho đàn gà đẻ khi chúng đạt 15 ­ 16 tuần tuổi. Hiện nay trên thị trường có các loại vaccine phòng Hội chứng giảm đẻ riêng, cũng như vaccine phòng 3 bệnh Newcastle (ND), viêm phế quản truyền nhiễm (IB) và hội chứng giảm đẻ (EDS).

Thường xuyên bổ sung vitamin, khoáng, men tiêu hóa trong thức ăn hoặc nước uống theo chỉ định giúp tăng sức kháng bệnh, chống stress khi môi trường thời tiết thay đổi, giúp tăng khả năng hấp thu khoáng, cung cấp vitamin, kích thích buồng trứng phát triển, tăng tỷ lệ đẻ, tỷ lệ ấp nở, kéo dài chu kỳ đẻ và giai đoạn gà đẻ đỉnh cao.

Nguyễn An


Vemedim (300x120) Dưới tiêu đề bài viết
Kết nối với chúng tôi