Mới cập nhật
Thứ hai, 07/08/2017 | 15:10 Chia sẻ trên Bệnh dịch tả vịt trên zozoha Chia sẻ trên Bệnh dịch tả vịt trên zozoha Chia sẻ trên Bệnh dịch tả vịt trên zozoha

Bệnh dịch tả vịt

(Thế Giới Gia Cầm) - Dịch tả vịt hay viêm ruột siêu vi trùng vịt là bệnh truyền nhiễm lây lan mạnh, gây thiệt hại về kinh tế. Virus này còn gây bệnh dịch tả đối với cả ngan, ngỗng…

Nguyên nhân

Bệnh do virus họ Herpesvirus, thuộc bộ Alpha herpesvirus gây ra. Virus có cấu trúc nhân AND, không gây ngưng kết hồng cầu cũng như không hấp phụ hồng cầu. Virus có hình cầu, vỏ capsid có kích thước 91 - 93 nm; Nhân 61 nm, hạt virus 126 - 129 nm (hạt virus trưởng thành có thể có kích thước lớn hơn 156 - 384 nm).

Phòng bệnh hiệu quả là tiêm vaccine nhược độc dịch tả vịt Ảnh: Duy Khương
Phòng bệnh hiệu quả là tiêm vaccine nhược độc dịch tả vịt Ảnh: Duy Khương

Dịch tễ học

Ðộng vật cảm nhiễm: Trong tự nhiên bệnh thường thấy ở vịt, ngỗng, thiên nga và một số loài thủy cầm hoang thuộc bộ ngỗng Anseriformes. Các loài vịt trời, ngỗng trời có sức đề kháng với virus cao hơn vịt và ngỗng nuôi.

Mùa vụ xuất hiện bệnh: Bệnh thường xảy ra lúc vịt chuyển sang chạy đồng, vịt đang thời kỳ thay lông, vào những tháng mưa nhiều, lạnh, ẩm bệnh. Ở ÐBSCL từ tháng 3 - 7 là thời điểm bệnh xuất hiện nhiều.

Ðường truyền

Bệnh thường truyền lây do tiếp xúc trực tiếp giữa đàn vịt bệnh và vịt khỏe. Hoặc có thể do tiếp xúc gián tiếp qua môi trường có mầm bệnh như nguồn nước, người chăn nuôi, dụng cụ chăn nuôi… Virus dịch tả vịt có trong máu, phủ tạng và các chất bài tiết như phân, nước mũi, nước mắt từ vịt bệnh hoặc từ các loài thủy cầm hoang dã di trú theo mùa có mang trùng virus dịch tả vịt được bài thải ra và tồn tại trong các nguồn nước ao, hồ… Một số vịt, ngỗng nuôi sau khi khỏi bệnh, vẫn mang và thải virus qua phân trong một thời gian. Cũng có trường hợp một số loài thủy cầm hoang, có sức đề kháng cao, nhiễm virus, mang virus, nhưng không có dấu hiệu lâm sàng, đóng vai trò tàng trữ và truyền virus trong môi trường tự nhiên. Bệnh không lây truyền theo chiều dọc (từ mẹ sang con).

Triệu chứng

Thể quá cấp: Bệnh xảy ra đột ngột, chết nhanh như cúm gia cầm mà không quan sát thấy các dấu hiệu lâm sàng nào bởi chủng virus dịch tả có độc lực quá cao.

Thể cấp tính: Ðây là bệnh phổ biến thường gặp ở trong thực tế chăn nuôi tại Việt Nam. Thời gian ủ bệnh 3 - 7 ngày. Vịt có dấu hiệu bỏ ăn, uể oải, chảy nước mũi và nước mắt, sợ ánh sáng, khó thở. Niêm mạc mắt đỏ (người dân hay gọi là bệnh mắt đỏ), mí mắt sưng dày lên, mắt kéo màng. Lúc đầu chảy nhiều nước mắt trong làm ướt cả vùng lông dưới mi mắt. Sau nước mắt đặc lại có màu vàng như mủ đóng đầy khóe mắt và có khi làm hai mi mắt dính lại với nhau. Nhiều con đầu sưng to, hầu, cổ cũng có thể bị sưng do tổ chức liên kết dưới da bị phù thũng.

Vịt sốt cao 42 - 440C và kéo dài 2 - 3 ngày nên khát nước và uống nhiều nuớc (do đó thường thấy xác vịt chết gần máng uống nước). Vịt tiêu chảy phân xanh dính ở hậu môn, nếu bệnh chuyển sang giai đoạn trầm trọng thì tiêu chảy phân đen do xuất huyết trong đường ruột. Trên đàn vịt đẻ, sản lượng trứng giảm khoảng 25 - 40%. Hầu hết vịt có biểu hiện của bệnh đều bị chết. Tỷ lệ vịt bệnh và chết dao động 5 - 100%.

Thể ẩn bệnh hay còn gọi là thể mang trùng: Ðây là thể bệnh thường thấy ở vịt, ngan lớn tuổi hoặc những đàn thủy cầm được tiêm phòng. Thể bệnh này có các biểu hiện như thể cấp tính, nhưng ở mức độ nhẹ hơn, gồm các triệu chứng rối loạn tiêu hóa, rối loạn hô hấp, viêm mí mắt, kết mạc mắt, giảm tăng trọng, giảm lượng trứng… Thông thường, thể ẩn bệnh là nền tảng cho các bệnh thứ phát khác.

Bệnh tích

Niêm mạc thực quản, dạ dày tuyến (cuống mề) phủ dịch nhớt trắng, xám hôi, gạt bỏ chất dịch nhờn thấy những điểm xuất huyết lấm tấm đỏ. Niêm mạc hậu môn, trực tràng xuất huyết đỏ. Gan sưng tụ huyết, có trường hợp biến màu xanh sẫm, túi mật sưng to. Màng não xuất huyết đỏ. Ở vịt đẻ, mổ ra phát hiện buồng trứng tụ huyết, xuất huyết đỏ bầm, trứng non biến dạng, đôi khi bị vỡ nằm trong xoang bụng.

Sau 6 - 7 ngày bệnh mổ khám thấy: Niêm mạc thực quản phần cuối lưỡi (hầu) có màng giả trắng đóng bựa thành mảng, khi gạt lớp bựa trắng ra, phía dưới loét hoặc xuất huyết lấm tấm. Toàn bộ niêm mạc ruột, trực tràng có màng giả hoặc xuất huyết. Buồng trứng và ống dẫn trứng xung huyết, trứng non méo mó và có vòng máu. Con đực xuất huyết mô ở ống dẫn tinh. Màng não bị xuất huyết đỏ lấm tấm. Các cơ quan phủ tạng khác đôi khi cũng xuất huyết như màng bao tim, cơ tim.

Chẩn đoán

Chẩn đoán lâm sàng: Căn cứ vào dấu hiệu lâm sàng và bệnh tích thể hiện.

Chẩn đoán phòng thí nghiệm: Lấy bệnh phẩm như máu, phủ tạng phân lập trên phôi vịt 9 - 14 ngày tuổi. Tìm kháng nguyên bằng phản ứng miễn dịch huỳnh quang, phản ứng trung hòa trên vịt. Tìm kháng thể bằng phản ứng trung hòa, phản ứng ELISA.

Phòng bệnh

Là bệnh do virus nên hiện không có thuốc điều trị. Biện pháp phòng bệnh hiệu quả nhất là tiêm vaccine nhược độc dịch tả vịt. Vaccine này rất an toàn và có hiệu lực, nó được chế từ nước niệu phôi vịt, có hiệu lực miễn dịch rất nhanh và mạnh. Vịt được tiêm vaccine sẽ không bài thải virus ra môi trường và lây nhiễm cho vịt tiếp xúc. Thực hiện lịch tiêm phòng vaccine đúng thời gian, cụ thể: Lần thứ nhất tiêm khi vịt được 3 ngày tuổi; Lúc được 21 ngày tuổi (đối với vịt thịt), 45 ngày tuổi (đối với vịt đẻ) tiến hành tiêm lần thứ 2; Sau 6 tháng tiêm nhắc lại. Ngoài ra, cần kết hợp với chăm sóc, nuôi dưỡng và vệ sinh khử trùng tiêu độc chuồng trại môi trường chăn nuôi, thức ăn, nước uống sạch sẽ, đảm bảo vệ sinh thú y.

Không chăn thả vịt tự do trên đồng, mà phải quy vùng chăn thả để hạn chế vịt bị lây nhiễm mầm bệnh. Khu chăn thả cần có lưới rào xung quanh và định kỳ phun thuốc sát trùng, luôn giữ vệ sinh chuồng trại.

Thường xuyên bổ sung vào thức ăn, nước uống của vịt các sản phẩm cung cấp chất dinh dưỡng, vitamin, khoáng chất để tăng cường sức đề kháng bệnh.

Diệt chuột quanh chuồng trại và hạn chế các loài chim tiếp xúc với đàn vịt, vì chúng là động vật môi giới truyền nhiễm bệnh cho vịt.

Ðiều trị

Khi vịt bị nhiễm bệnh, tỷ lệ chết rất cao. Biện pháp cần thiết là tiến hành phân lô thành đàn nhỏ, cách ly những con đã có triệu chứng bệnh, đối với những con chưa có dấu hiệu bị bệnh cần tiêm phòng vaccine liều gấp 1,5 - 2 lần. Bằng phương pháp đó sau 3 - 4 ngày, vaccine đã kích thích cơ thể miễn dịch chống lại bệnh dịch tả, nên những con chưa nhiễm bệnh có thể cứu sống được. Còn trong trường hợp bệnh đã phát ra rầm rộ gây chết 50 - 80% thì không nên tiêm phòng vì không còn tác dụng nữa.

Cần tiến hành xử lý môi trường sau dịch sạch sẽ, làm vệ sinh chuồng trại, nơi chăn thả và phun thuốc sát trùng, để trống chuồng trại sau 1 - 2 tháng mới nuôi trở lại.

 

 Dịch tả vịt (Pestisanatum) là một bệnh truyền nhiễm có tính lây lan mạnh của loài thủy cầm do một loại Herpesvirus thuộc họ Herpesvirideae gây ra với đặc điểm là xuất huyết nội tạng và ỉa chảy nặng nề (Nguyễn Đức Hiền, 1999). Năm 1923, bệnh được nhà bác học Baudet phát hiện lần đầu tiên trong một ổ dịch xảy ra ở đàn vịt nhà với triệu chứng ủ rũ, khát nước và chết sau đó một ngày.

l Tại châu Âu, bệnh được Devos phát hiện ở Bỉ năm 1964. Năm 1970, Gaudry phát hiện bệnh dịch tả ở Pháp, Asplin phát hiện bệnh ở Anh. Tiếp theo, Bela Toth và Voxapeer Suwathanaviroj công bố bệnh dịch tả vịt xảy ra ở Đức (Trần Minh Châu, 1980). Đến nay, bệnh phân bố khắp các châu lục, nhất là các quốc gia có ngành chăn nuôi thủy cầm phát triển như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Pháp, Mỹ, Hà Lan, Canada, Hungary...

l Ở Việt Nam, bệnh được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1960 ở vùng Đồng bằng sông Hồng. Hàng năm, các ổ dịch vẫn xảy ra ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước, nhưng tập trung ở ĐBSCL và Đồng bằng sông Hồng, nơi có nuôi tập trung nhiều vịt. Như vậy, bệnh dịch tả mặc dù được phát hiện lần đầu tiên ở châu Âu nhưng gần đây bệnh chủ yếu lây lan và gây hại ở các nước châu Á. Nguyên nhân có thể do tại đây nghề chăn nuôi vịt ngày càng phát triển nhưng các biện pháp phòng chống bệnh này vẫn chưa được quan tâm đúng mức.

Nguyễn An

 


Vemedim (300x120) Dưới tiêu đề bài viết
Kết nối với chúng tôi