Mới cập nhật
Thứ ba, 28/11/2017 | 10:20 Chia sẻ trên “Sốt” nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trên zozoha Chia sẻ trên “Sốt” nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trên zozoha Chia sẻ trên “Sốt” nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trên zozoha

“Sốt” nguyên liệu thức ăn chăn nuôi

(Thế Giới Gia Cầm) - Hằng năm, Việt Nam phải bỏ ra hàng tỷ USD để nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu. Vấn đề đặt ra là vì sao một nước có tới hơn 60% dân số sống bằng nông nghiệp như nước ta mà năm nào cũng phải chi một số tiền lớn để nhập ngô, đậu nành, nguyên liệu thức ăn chăn nuôi? Làm thế nào để khắc phục vẫn là một bài toán khó!

Ông Lê Quốc Doanh, Thứ Trưởng Bộ NN&PTNT
Hạ giá thành ngô trong nước Ðể khôi phục và phát triển cây ngô thành cây trồng chủ lực, hình thành vùng nguyên liệu cho ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi, Bộ NN&PTNT đề nghị các tỉnh, thành phố rà soát quy hoạch sản xuất ngô trên địa bàn trong quá trình điều chỉnh các phương án quy hoạch chuyên ngành có liên quan. Phương án quy hoạch cần gắn chặt sản xuất với thu mua, sơ chế, chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm ngô. Ðặc biệt, chú trọng tạo giống lai năng suất, chất lượng cao, kháng sâu bệnh, chịu lạnh, hạn, úng, phèn… Vấn đề đặt ra trong thời gian tới là cần thực hiện các giải pháp hạ giá thành sản phẩm ngô trong nước, nâng cao năng lực cạnh tranh với ngô nhập khẩu và tiến tới xuất khẩu.
 
Ông Trần Xuân Ðịnh, Phó Cục Trưởng Cục Trồng Trọt
Giảm chi phí sản xuất ngô Hiện nay sản xuất ngô trong nước chỉ đáp ứng được khoảng 40 - 45% nhu cầu ngô hạt phục vụ chế biến thức ăn chăn nuôi trong nước. Năm 2016, Việt Nam nhập khẩu 3,39 tỷ USD thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu; trong đó, Việt Nam phải nhập khẩu 8,3 triệu tấn ngô, trị giá 1,65 tỷ USD và nhập 1,56 triệu tấn đậu nành. Ðiều này khiến sức cạnh tranh của ngành chăn nuôi Việt Nam chứa đựng nhiều rủi ro, giá trị của ngành không cao. Ðể nâng cao sức cạnh tranh cho ngành chăn nuôi nói chung và để cạnh tranh được với ngô nhập khẩu nói riêng, ngành sản xuất ngô Việt Nam cần giải bài toán làm thế nào để giảm giá thành sản xuất ngô thương phẩm thông qua hai yếu tố chính là: Giảm chi phí canh tác và cải thiện năng suất. Hiện nước ta thiếu các gói kỹ thuật sản xuất ngô cho từng vùng sinh thái, ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất còn hạn chế, nên năng suất chưa cao, giá thành cao khó cạnh tranh. Mở rộng diện tích hay chuyển đổi diện tích lúa sang ngô vẫn còn nhiều vấn đề cần bàn. Song giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng là việc cần làm từ cải thiện chất lượng giống ngô, áp dụng kỹ thuật trong sản xuất… Từ nay đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, sản xuất ngô trong nước tiếp tục hướng vào thị trường nội địa.
 
Ông Nguyễn Ðăng Vang, Chủ Tịch Hiệp Hội Chăn Nuôi Việt Nam
Tập trung sản phẩm lợi thế Với thực trạng nước ta hiện nay, việc phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu là việc khó tránh khỏi. Nguyên liệu nhập rẻ hơn giá thành trong nước. Chuyển đổi diện tích lúa sang trồng ngô để hạn chế nhập khẩu cũng tốt. Song việc làm thế nào để hiệu quả nhất và cạnh tranh giá? Bởi nếu tập trung vào sản xuất nguyên liệu thức ăn chăn nuôi như đậu nành, ngô để phục vụ ngành chăn nuôi, giảm bớt nhập khẩu từ nước ngoài chưa chắc đã phù hợp. Bởi nền nông nghiệp nước ta vẫn ở trình độ sản xuất nhỏ lẻ, lạc hậu. Trong khi đó các quốc gia khác đã công nghiệp hóa nông nghiệp nên họ cho ra sản lượng lớn, giá thành thấp, Việt Nam sẽ khó cạnh tranh được. Vì vậy, cũng có thể thay vì sản xuất nhiều ngô với đậu nành để phục vụ ngành chăn nuôi, ngành nông nghiệp nên tập trung sản xuất những sản phẩm có lợi thế đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi.
 
Ông Nguyễn Ðăng Vang, Chủ Tịch Hiệp Hội Chăn Nuôi Việt Nam
Ông Lê Bá Lịch, Chủ Tịch Hiệp Hội Thức Ăn Chăn Nuôi Việt Nam Tạo nhiều ưu đãi Mỗi năm, Việt Nam vẫn chi vài tỷ USD nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi. Vài năm nay, con số này vẫn tiếp tục tăng do lượng chăn nuôi trong nước vẫn tăng. Các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi cũng tăng và mở rộng liên tục, đặc biệt là nhà máy có vốn đầu tư nước ngoài. Nhu cầu sử dụng trong nước tăng nhưng nguyên liệu nội địa không đáp ứng được nên việc nhập khẩu nguyên liệu vẫn tăng. Bởi, Việt Nam không có thế mạnh về phát triển đậu tương nói riêng. Trước đây, Việt Nam có 200.000 ha trồng đậu tương nhưng hiện nay chỉ còn khoảng 120.000 ha, năng suất 1,5 tấn/ha. Lý do là đất trồng ở Việt Nam được quay vòng liên tục, đất không có thời gian nghỉ để hấp thụ dinh dưỡng, thời gian trồng đậu tương chỉ có 3 tháng, trong khi các nước khác trồng đậu tương 5 tháng nên có năng suất cao hơn (3 tấn/ha). Ngoài ra, nhiều vùng ở Việt Nam bị sương muối ảnh hưởng tới năng suất đậu tương. Nhà nước nên khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước bằng cách tạo nhiều ưu đãi cho họ, để doanh nghiệp nội địa có ưu thế cạnh tranh với doanh nghiệp FDI.
 
Ông Phan Văn Lục, Tổng Thư Ký Hiệp Hội Chăn Nuôi Gia Cầm Việt Nam
Sớm đưa giống ngô năng suất cao Nguyên liệu nhập để sản xuất thức ăn chăn nuôi thì nhiều nhưng ở đây ta chú ý hai nguyên liệu chính là ngô và đậu tương. Ðể đáp ứng nhu cầu sản xuất cho ngành chăn nuôi phát triển, việc nhập nguyên liệu là cần thiết, đặc biệt thức ăn giàu đạm. Ðối với thức ăn giàu năng lượng như ngô ta còn thiếu, cây họ đậu thì khí hậu thổ nhưỡng đất đai của ta chưa phù hợp để phát triển. Ðối với cây ngô diều kiện đất đai và khí hậu có thể phát triển ở nước ta điều đó đã chứng minh trong thực tế. Theo số liệu thống kê 10/2016 cả nước có trên 94,3 ngàn ha đất trồng ngô, năng suất bình quân là 44,5 tạ /ha, Bộ NN&PTNT đã phê duyệt Ðề án phát trển ngành trồng trọt đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, trong đó có quy hoạch chuyển đổi 150.000 ha đất trồng lúa sang trồng ngô. Tuy vậy năng suất ngô của ta còn thấp, bằng 80% năng suất trung bình trên thế giới; Chưa có quy hoạch vùng trồng ngô hàng hóa, đảm bảo việc cơ giới hóa đồng bộ, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến nâng cao năng suất và giảm giá thành. Theo đó, cần sớm đưa những giống ngô có năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất đại trà tạo một bước chuyển mới về lượng và chất trong ngành trồng ngô. Sản phẩm sản xuất ra phải được bảo quản tốt mới loại trừ được những tác hại rủi ro do môi trường khí hậu ẩm thấp như ở Việt Nam. Nếu tổ chức sản xuất được nguyên liệu trong nước đảm bảo mọi điều kiện và yếu tố kỹ thuật chắc chắn giá thành sẽ hạ so với nhập khẩu và giảm lượng nhập khẩu.
 
Bà Ðào Thị Nông, Thị Xã Phúc Yên, Vĩnh Phúc Hỗ trợ công nghệ trồng ngô Nhập khẩu nguyên liệu để phục vụ ngành chăn nuôi tăng mạnh và luôn có xu hướng tăng, mặc dù chăn nuôi vẫn đang gặp những khó khăn nhất định. Bởi lẽ đó, cần sớm giải quyết khâu đầu vào cho chăn nuôi, tự chủ vùng nguyên liệu, hoặc tăng cường nguyên liệu tự chế. Việc sử dụng những nguồn nguyên liệu tự chế cũng hướng chăn nuôi theo hướng an toàn, giống như chăn nuôi hữu cơ. Về lâu dài, cần thử nghiệm những vùng nguyên liệu lớn như vùng ngô theo quy hoạch đã được triển khai. Mặt khác, tính toán bao tiêu đầu ra cho bà con, hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ trồng ngô, thu hoạch, bảo quản sản phẩm…
 
 
>> Theo nhiều chuyên gia, để có được nguồn nguyên liệu tại chỗ, Nhà nước, doanh nghiệp và các cơ quan liên quan phải làm việc với nhau để có những chính sách khuyến khích nông dân sản xuất quy mô lớn, tạo nguồn cung ổn định, có chất lượng. Như vậy mới tránh được tình trạng phụ thuộc quá nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu như hiện nay.

 

Sao Mai - Dương Thảo - Vũ Mưa

(Ghi)


Vemedim (300x120) Dưới tiêu đề bài viết
Kết nối với chúng tôi