Mới cập nhật
Thứ ba, 27/06/2017 | 16:48 Chia sẻ trên 6 nhóm giải pháp để ngành gia cầm bền vững trên zozoha Chia sẻ trên 6 nhóm giải pháp để ngành gia cầm bền vững trên zozoha Chia sẻ trên 6 nhóm giải pháp để ngành gia cầm bền vững trên zozoha

6 nhóm giải pháp để ngành gia cầm bền vững

(Thế Giới Gia Cầm) - Quốc gia nào nắm bắt nhanh, đổi mới kịp thời để đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng thì ngành chăn nuôi gia cầm của nước đó sẽ phát triển nhanh, mạnh, bền vững. Ngành gia cầm Việt Nam cũng cần phải thực hiện 6 nhóm giải pháp để phát triển bền vững.

Rà soát lại quy hoạch

Quy hoạch theo không gian: Phải xác định được vùng khuyến khích chăn nuôi (trung du, miền núi), vùng hạn chế (đồng bằng, ven đô thị) và vùng không chăn nuôi (nội thành, đô thị, nội thị). Vấn đề này phù hợp với chương trình phát triển chung của đất nước hiện đại văn minh. Đối với ngành chăn nuôi sẽ dễ kiểm soát về mọi mặt, nhất là dịch bệnh.
Quy hoạch theo sản phẩm: Hiện nay, vẫn còn nhiều ý kiến cho rằng thống kê sản lượng chăn nuôi nói chung và gia cầm nói riêng là chưa chính xác. Có hai quan điểm, một cho rằng sản lượng thịt hiện là 961 ngàn tấn/năm, ý kiến khác cho rằng trên 1.800 tấn/năm. Đối với trứng là 9 tỷ quả hay trên 12 tỷ như đánh giá của nhiều chuyên gia. Vì vậy cần xem xét đánh giá lại để xác định chính xác tổng đàn, tổng sản lượng thịt, trứng hàng năm là bao nhiêu? Từ đó mỗi năm tăng trưởng bao nhiêu là phù hợp? Theo đó tỷ trọng giữa gà trứng, gà thịt và tỷ trọng giữa gà lông màu, gà trắng.

Giải pháp phát triển gia cầm bền vữngĐảm bảo an toàn dịch bệnh cho gia cầm luôn là vấn đề phải quan tâm hàng đầu   Ảnh: Tất Sơn


Đổi mới phương thức sản xuất

Từ nay đến năm 2030 duy trì ba phương thức sản xuất, gồm trang trại công nghiệp, gia trại và nông hộ. Trong đó đẩy mạnh chăn nuôi trang trại công nghiệp với kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến để tạo ra các sản phẩm nhanh đòi hỏi sự liên kết chuỗi nhằm phát huy hiệu quả. Hiện nay đã có một số mô hình liên kết chuỗi sản xuất cần được tăng cường bổ sung, rút kinh nghiệm và hoàn thiện. Vì vậy cần khuyến khích thành lập các doanh nghiệp, các hiệp hội chăn nuôi, trang trại, hợp tác xã dịch vụ chăn nuôi gia cầm để phát huy tối đa hiệu quả của các trang trại thành viên. Đối với chăn nuôi nông hộ, khuyến khích việc hình thành các nhóm hộ gắn với thực hành tốt các quy trình kỹ thuật chung sản xuất hàng hóa có tính tập trung và chất lượng sản phẩm được kiểm soát. Với cách tổ chức này, sản phẩm tạo ra đến tay người tiêu dùng sẽ được kiểm soát về chất lượng, truy rõ nguồn gốc và kiểm soát được dịch bệnh và môi trường.


Chú trọng khoa học, công nghệ

Trước mắt cần tổ chức lại hệ thống chọn lọc, nhân giống, kiểm định giống và cung ứng giống có năng suất chất lượng cao phục vụ chăn nuôi trang trại, gia trại và nông hộ phù hợp cho trình độ chăn nuôi của từng vùng. Các cơ sở chọn, tạo, nhân giống được xác nhận cần phối hợp với các địa phương xây dựng mạng lưới sản xuất, cung ứng đủ giống bố mẹ có năng suất chất lượng cao cho sản xuất. Ứng dụng những bộ giống có năng suất cao, chất lượng tốt, có thời gian nuôi ngắn, tiêu tốn thức ăn thấp, giá thành thấp. Ưu tiên nhập khẩu những giống có năng suất chất lượng cao. Đối với giống bản địa, phục tráng các giống có chất lượng tốt, tăng cường năng lực sản xuất giống tại chỗ cho từng vùng sinh thái và có chính sách hỗ trợ khuyến khích, đây là lợi thế cần duy trì và phát triển.
Đồng thời cũng cần áp dụng quy trình chăn nuôi tiên tiến khép kín, tự động hóa kiểm soát toàn bộ quá trình chăn nuôi nhằm tạo ra những sản phẩm chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm.
Ngoài ra, việc hạ giá thành thức ăn chăn nuôi cũng là một khâu rất quan trọng. Cần giải quyết tốt chăn nuôi công nghiệp bằng thức ăn công nghiệp nhưng với giá hợp lý. Đối với chăn nuôi nông hộ có điều kiện phối trộn thức ăn, có thể tận dụng nguyên liệu sẵn có để giảm giá thành.Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra chất lượng, giá thức ăn chăn nuôi. Đối với người chăn nuôi: Cải thiện điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, nên ký hợp đồng dài hạn với các nhà máy sản xuất thức ăn. Các trang trại lớn nên liên doanh liên kết sản xuất để cùng nhau chia sẻ rủi ro và lợi nhuận. Hỗ trợ kỹ thuật để sử dụng tối đa và có hiệu quả các phụ phẩm, phế phẩm nông nghiệp làm thức ăn chăn nuôi. Phát triển vùng nguyên liệu sản xuất thức ăn để giảm dần áp lực nhập khẩu nguyên liệu, từ đó hạ giá thành.


Tổ chức sản xuất toàn diện

Phát triển các hình thức liên kết chăn nuôi giữa doanh nghiệp và trang trại. Khuyến khích hình thức chăn nuôi gia công giữa các chủ trang trại và các doanh nghiệp chăn nuôi sản xuất thức ăn giết mổ, chế biến và xuất khẩu thịt. Khuyến khích giết mổ tập trung, duy trì các chợ đầu mối, chợ truyền thống gắn vùng sản xuất với thị trường. Khuyến khích thành lập các hiệp hội chăn nuôi trang trại, hợp tác xã dịch vụ chăn nuôi. Xây dựng các lò mổ tập trung quy mô vừa ở các vùng trọng điểm, hình thành mối liên kết giữa nhóm các cơ sở chăn nuôi với các thị trường lớn như ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Xây dựng, phát triển hệ thống thu mua và có chiến lược tiếp cận thị trường. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ quảng bá thương hiệu sản phẩm có nhãn mác xuất xứ.
Cần tổ chức lại sản xuất toàn diện để có động lực tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao, phù hợp với điều kiện đặc thù và thế mạnh của nước ta như: Trứng muối, gà thịt, lông vũ, một số sản phẩm gia cầm chế biến khác… Để có được sản phẩm xuất khẩu bắt buộc sản phẩm phải có chất lượng đồng đều; Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm theo thông lệ quốc tế; Ưu tiên kỹ thuật công nghệ và quy trình sản xuất tối ưu để tạo ra sản phẩm đúng nhu cầu của khách hàng.
Sản phẩm xuất nhập khẩu cần được giám sát chặt chẽ theo thông lệ quốc tế. Khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân nhập khẩu giống gà mới có năng suất chất lượng cao từ những nước chăn nuôi tiên tiến. Đồng thời, quản lý tốt sản phẩm thịt gia cầm nhập khẩu theo hướng tăng cường kiểm tra vệ sinh thú y, dư lượng kháng sinh, các chất độc hại, các chất cấm, hàng rào kỹ thuật khác. Tổ chức quản lý tốt việc nhập lậu qua biên giới, sản phẩm không đảm bảo chất lượng và vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm.


Đảm bảo an toàn dịch bệnh

Đảm bảo an toàn dịch bệnh đàn gia cầm trong cả nước. Tăng cường hệ thống kiểm tra giám sát từ trung ương đến địa phương với phương châm phòng bệnh từ xa, cảnh báo, phát hiện sớm và xử lý nhanh gọn an toàn khi phát hiện bệnh. Các cơ sở chăn nuôi thực hiện tốt quy trình chăn nuôi theo VietGAHP đã được Bộ NN&PTNT ban hành. Đối với dịch cúm gia cầm, cần triển khai đồng bộ các biện pháp đẩy lùi nguy cơ lây lan dịch bệnh như: Thực hiện nghiêm công điện số 1475 về “Phòng chống dịch cúm gia cầm chủng A/H7N9 và các chủng virus cúm gia cầm khác của Bộ NN&PTNT ngày 17/2/2017; Quản lý vận chuyển và kiểm soát giết mổ gia cầm. Kiểm dịch tận gốc gia cầm, sản phẩm gia cầm vận chuyển qua biên giới và nội địa. Thực hiện nhóm giải pháp “Thực hành về an toàn thực phẩm trong vận chuyển giết mổ gia cầm, xây dựng mô hình giết mổ gia cầm thủ công tập trung nhiều hộ gia đình tại chợ. Kiểm tra chặt chẽ các cơ sở sản xuất, sơ chế, chế biến sản phẩm gia cầm tuân thủ các yêu cầu về vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm”; Xây dựng vùng, cơ sở chăn nuôi gia cầm an toàn dịch bệnh theo hướng tiếp cận các tiêu chuẩn về an toàn dịch bệnh của quốc tế; Giám sát chủ động bằng cách lấy máu xét nghiệm nhằm phát hiện sự lưu hành virus cúm H5N1, H5N6, H7N9... trên đàn gia cầm, đặc biệt gia cầm nhập lậu không rõ nguồn gốc; Kiểm soát nhập khẩu gia cầm, sản phẩm gia cầm vào Việt Nam theo đúng thông lệ quốc tế.



Tăng cường công tác quản lý

Hệ thống giống gia cầm được hoàn chỉnh như một hình tháp 3 cấp (giống thuần chủng, giống ông bà, giống bố mẹ). Hệ thống giống này gồm hai hướng giống chuyên trứng và giống chuyên thịt, phải được Nhà nước quản lý chặt chẽ. Các cơ sở nuôi giữ giống gốc (thuần chủng) và giống ông bà phải có hồ sơ theo dõi cá thể chọn lọc theo hệ phả, được theo dõi kiểm định, đánh giá về phẩm chất giống. Tăng cường chọn lọc giống có chất lượng cao phù hợp với từng vùng, khuyến khích xây dựng thương hiệu giống. Khuyến khích chăn nuôi tập trung, xây dựng vùng an toàn dịch bệnh, đổi mới công nghệ trong toàn bộ hệ thống sản xuất gia cầm tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao và an toàn thực phẩm. Đảm bảo thông tin, dự báo và cơ chế điều hành giá bán sản phẩm, tồn dư sản phẩm vào thời điểm dội hàng giảm áp lực cho người chăn nuôi.
Thông qua quản lý Nhà nước hạn chế sự chi phối của thương lái về giá cả và làm mất an toàn vệ sinh thực phẩm. Triển khai thực hiện tốt Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; Triển khai tốt Quyết định số 50/2014/QĐ-TTg ngày 4/9/2014 của Thủ tướng Chính phủ về Chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2015 - 2020. Vận dụng các chính sách để trợ giúp cho quy hoạch vùng chăn nuôi, khu chăn nuôi như: Chính sách trợ giúp cho khu công nghiệp (thực tế hiện nay quy hoạch khu chăn nuôi, khu chăn nuôi chưa có sự đầu tư đồng bộ nào rất cần cho chăn nuôi như đường, điện, nguồn nước sạch, xử lý nước thải, an ninh...).
Đối với xuất nhập khẩu giống và sản phẩm gia cầm đảm bảo các thông lệ xuất nhập khẩu hiện hành, cần có hàng rào kỹ thuật để kiểm soát chặt chẽ các chỉ tiêu an toàn thực phẩm (vi khuẩn, độc tố, chất cấm, dư lượng kháng sinh...). Xử lý nghiêm những trường hợp nhập lậu sản phẩm, sản phẩm kém chất lượng làm ảnh hưởng đến ngành sản xuất.

 

>>> Sản phẩm gia cầm được dự báo sẽ tăng nhanh do nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng bởi những ưu thế sau: Vòng quay tạo ra sản phẩm nhanh, gà thịt chỉ cần nuôi 5 - 6 tuần, giá thành hợp lý, dễ chế biến, dễ sử dụng và có giá trị dinh dưỡng cao. Phát triển chăn nuôi gia cầm là một lợi thế, song đây cũng là một cuộc cạnh tranh lớn và sòng phẳng trước bối cảnh hội nhập toàn cầu.


TS Phan Văn Lục
Tổng thư ký Hiệp hội Chăn nuôi
Gia cầm Việt Nam


Vemedim (300x120) Dưới tiêu đề bài viết
  • tuần
  • tháng
  • Năm
Kết nối với chúng tôi